Giới thiệu về Aqualift

1. Lịch sử hình thành và sử dụng chất độn sinh học dạng Gel Hydrophilic trong phẫu thuật thẩm mỹ.
Cuối thập niên 80 thế kỷ 20, dạng gel polyacrylamide được ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ với áp dụng cấy ghép vào mô mềm. Sự tiến bộ của chất này là: dễ đưa vào cơ thể bằng đường tiêm, dễ dàng vô khuẩn bằng chiếu xạ, ổn định trong lưu giữ, là chất thạch ổn định và chứa bên trong rất nhiều nước. Trong thập niên 90, hàng loạt các sản phẩm với công thức trên được bán trên thị trường: Interfall, Formacryl, Estefrom được áp dụng tại Nga và các nước liên bang để xóa nếp nhăn và tạo hình mô mềm. Tuy nhiên sau khi áp dụng rộng rãi đã có những báo cáo về biến chứng.
Interfall Gell là sản phẩm đầu tiên được đưa ra trên thị trường, được sản xuất tại Ukraine.
Formacryl là sản phẩm tương tự và dựa trên Interfall, được sản xuất tại Nga, thành phần gồm 5% là polymer polyacrylamide (cấu trúc phân nhánh) và 95% là nước. Độ pH của sản phẩm là 7-8.5
Bioformacryl là sản phẩm tương tự và dựa trên Formacryl, được đăng ký tại Italia, có chứa thêm trong thành phần 0.04% acrylamide không phải chuỗi polymer và 0.03% arylamide- chất chống nhiễm trùng chứa bạc.
Trung Quốc cũng sản xuất chất “ Amazing gel- Gel Kỳ diệu” bao gồm trong đó là polyacrylamide và chất kích thích sinh trưởng sinh học bTGF (bovine transforming growth factor-a) và EGF (epidermal growth factor)
Chất gel polyacrylamide dựa trên nền tảng là cấu trúc của polyacrylamide, được tạo nên từ sự trùng hợp các phần tử acrylamide. Acrylamide là các phần tử không bão hòa, rất dễ trùng hợp. Các liên kết không vững bền trong trùng hợp các Acrylamide tạo điều kiện cho Polyacrylamide dễ dàng thay đổi trạng thái và tái lập lại hình thái ban đầu. Polyacrylamide là chất không tan trong nước. Polyacrylamide là thế hệ chất sinh học đầu tiên trên thế giới chứa đựng khả năng này- thixotropic.
Đặc điểm của các chất thixotropic: là các chất có độ kết dính cao trong điều kiện bình thường. Khi các chất này chịu các lực tác động: lắc, nén nó sẽ lỏng ra.
Do vậy, khi các chất polyacrylamide được tiêm qua kim vào trong tổ chức, nó sẽ tạm thời lỏng ra, sau đó nó sẽ tái tổ hợp lại trong mô và tổ chức .
Với hiểu biết về các sản phẩm chứa Polyacrylamide, chúng ta có tổng hợp các khả năng xảy ra biến cố ở thế hệ gel hydrophilic thứ nhất này.
·         Khả năng tái tổ hợp, không tan trong nước, sự đứt gãy, viêm và phản ứng của tổ chức, tổn thương mô do dùng kim lớn: chất được tổng hợp rất khó mất đi do các mảnh vỡ của gel không tan được trong nước.
·         pH: 7-8.5: gây kích thích mô và tổ chức, nguy cơ nhiễm trùng cao, tạo vùng cứng tại chỗ tiêm.
·         Nước trong sản phẩm này được chưng cất 2 lần gây phản ứng nhược trương của tổ chức mức độ trung bình, dẫn đến cảm giác đau, và cứng, lổn nhổn tại vị trí tiêm.
Năm 2001, giới thiệu dạng gel polyacrylamide mới Eutrophill, được sản xuất tại Pháp. Có đặc điểm nổi bật là chất độn tan trong nước và được hấp thụ sinh học. Sản phẩm này chứa polymer của acrylamide và DADMA (dimer acid-derived dimethacrylate) 1 chất được sử dụng trong cấy ghép nha khoa, chất đệm photsphat và nước
Năm 2004, trung tâm nghiên cứu công nghệ quốc gia Ukraine bắt đầu nghiên cứu sản phẩm cấy ghép thế hệ mới. Đến năm 2007, sản phẩm này chính thức được đưa ra thị trường với thương hiệu Aqualift
Aqualift là chất độn trong mô mềm, nó tồn tại trong cơ thể với mức độ sinh lý cao nhất. Cấu tạo của Aqualift là nước muối sinh lý được chứa đựng trong bộ khung là polymer của 2 nhóm amide và cacboxylic. Bộ khung này tạo nên 1 ma trận các kết nối đan chéo trong không gian 3 chiều, các kết nối dạng peptide này tạo cho bộ khung của Aqualift rất ổn định. Sự có mặt của các nhóm carboxylic mang đến điện tích dương cho chất Aqualift, và sự hấp thu nước rất mạnh cũng như sự hòa tan được trong nước của Aqualift.
  
2. Cấu tạo Aqualift:
Qua các nghiên cứu về các chất ưa nước, các cầu nối liên kết trong phân tử, nhóm nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Y khoa Quốc Gia Ukraine đã thành công trong việc tổng hợp ra Aqualift.
Cấu tạo Aqualift dựa trên nền tảng là các phần tử polyamide, các phần tử này kết hợp lại với nhau bằng vô số các cầu nối Hydro giữa gốc cacbonyl và gốc amid trong phân tử. Sự trùng hợp nhiều các phân tử polyamide là 1 bản quyến sáng chế, nó tạo nên 1 bộ khung các phân tử polyamide và 1 ma trận các liên kết Hydro theo không gian 3 chiều. Các kết nối có thể dễ dàng rời ra và tái hợp lại 1 cách nhanh chóng, giúp cho cấu trúc của các phân tử rất bền vững.
Với cấu trúc bộ khung rất lớn đó, Aqualift có khả năng hút 1 lượng nước rất lớn lên đến 98%.
Với vô số các gốc cacbonyl, Aqualift mang điện tích dương.
-          Aqualift là chất độn cho mô mềm, được cấu tạo bằng bộ khung polyamide với các kết nối đan chéo theo không gian 3 chiều, bền vững và nước muối sinh lý 0.9%
-          Aqualift là chất sinh lý nhất với cơ thể, đạt được sự an toàn cao nhất trong các chất cấy ghép mô
Aqualift là chất tạo hình thế hệ mới
Aqualift là chất độn có sự hấp thụ sinh học tuyệt đối với cấu trúc đặc biệt là bộ khung polyamide và 98% nước muối sinh lý 0.9%. Aqualift mang điện tích dương khi ở trong mô sẽ kích thích các tổ chức liên kết dưới da phát triển như collagen, sợi elastin, sợi fibrins, glycosaminoglycanes; đồng thời nó ngăn chặn quá trình viêm của tổ chức.
Aqualift được sản xuất với tiêu chuẩn cao nhất trong công nghiệp dược phẩm đạt được sự an toàn tuyệt đối của sản phẩm và không có bất kỳ sự nhiễm trùng nào.
Aqualift được áp dụng lâm sàng và thực hiện các nghiên cứu lâm sàng từ năm 2003.
 
 
3.Sự thành công chắc chắn khi sử dụng Gel ưa nước Aqualift
Qua năm tháng, khi cơ thể già đi, cùng hiện tượng suy giảm các cấu trúc quan trọng dưới da làm cho bề mặt và sự căng mịn của da thay đổi, các mô mềm như vú hay 1 số vùng da khác không còn săn chắc. Tất cả những hiện tượng trên có nguồn gốc từ sự mất nước của các lớp tế bào dưới da. Để hiểu được sự tác động của Aqualift tác động đến mô dưới da như thế nào, chúng ta xem xét lại cơ chế lão hóa của da và tổ chức dưới da.
Da gồm ba lớp: lớp thượng bì, lớp hạ bì, lớp mỡ dưới da.
Lớp thượng bì: gồm ba lớp tế bào; lớp sừng được tái tạo và mất đi liên tục; lớp tế bào gai; lớp tế bào đáy: là lớp TB rất quan trọng trong việc tái tạo lớp thượng bì. Tuổi càng cao, sự hoạt động của TB đáy yếu đi, làm cho lớp thượng bì mỏng đi, dễ bị tổn thương, không tươi sáng. Các thương tổn trên da dần xuất hiện: nám, nhăn, lõm, mảng cứng…Cùng với lượng lipid trên da cũng thấp đi làm cho da khô đi.
Lớp hạ bì: là lớp rất quan trọng, đóng vai trò trong các đặc tính: chắc chắn, đàn hồi, và căng của da. Có thể nói đó là sự kết hợp của nước và ma trận của bộ khung dưới da. Tại lớp này, vai trò của các sợi collagen và sợi elastin tạo nên bộ khung chắc chắn. Giữa các sợi collagen và elastin là các phân tử mucopolysaccharides, đây là các phân tử polysaccharide kết hợp với 1 lượng nước rất lớn, tạo nên dạng gel mềm. Trong lớp hạ bì còn có các tế bào sợi, các nang tuyến, mạch máu và thần kinh.Tế bào sợi đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo các chất gian bào mucopolysacchrides. Khi tuổi tăng lên, các thành phần trong lớp hạ bì cũng biến đổi. Tế bào sợi không giữ được cân bằng trong tổng hợp các chất gian bào, các sợi collagen và elastin cũng thay đổi khối lượng và chất lượng làm bộ khung yếu đi. Sự sắp xếp của bộ khung từ dạng không gian 3 chiều dần trở thành dạng xếp ngang, làm mất đi sự đàn hồi và căng của da. Các đặc điểm của sự thoái hóa da liên quan đến tuổi già là:
            Xuất hiện các nếp nhăn quanh mắt, môi, cổ và mu tay.
            Thay đổi các nếp rãnh quanh miệng, các rãnh sâu hơn, kéo dài hơn
            Da khô hơn và không đáp ứng với các kem làm ẩm da.
 
Các lý thuyết mới về sự lão hóa:
·         Gốc ion tự do: sự xuất hiện các gốc ion tự do làm phá hủy các thành phần trong tổ chức, từ mức độ phân tử đến mức độ tế bào.
·         Tia cực tím: tác động mạnh đến lớp TB đáy của lớp thượng bì, làm rối loạn sinh tổng hợp collagen và elastin.
·         Sự phá hủy lớp nước trong lớp hạ bì: Sự cân bằng nước của lớp thượng bì có nguốn gốc từ lớp hạ bì. Khi lớp thượng bì khô, nước sẽ từ lớp hạ bì vượt qua lớp tế bào đáy lên trên làm cân bằng độ ẩm cho da.
Aqualift mang đến 1 giải pháp tổng thể cho các nguyên nhân gây lão hóa tại da, không chỉ đóng vai trò là 1 chất độn, Aqualift tác động đến da theo nhiều cách hiệu quả:
·         Aqualift mang đến 1 lượng nước rất lớn, giúp cho da duy trì độ ẩm.
·         Aqualift ngăn chặn sự hủy tế bào, qua đó ngăn sự tạo thành các gốc ion tự do.
·         Aqualift kích thích sự phát triển của các nguyên bào sợi, sự tạo thành các sợi collagen và elastin
Qua đó vai trò tạo hình thẩm mỹ của Aqualift được kéo dài và ngày càng phát huy hiệu quả.
 
4. Tổng kết các đặc tính và áp dụng Aqualift
·       Aqualift™ - là chất cấy tạo hình sinh lý nhất và an toàn nhất, nó chứa đến 98% là nước và nó có thể phân hủy cấu trúc từ từ.
·       Aqualift™- có hình thái mềm, chứa bên trong là nước muối sinh lý 0.9% và bộ khung là các chuỗi phân tử gắn kết theo không gian 3 chiều bằng cầu nối Hydro giữa nhóm Amid và nhóm cacboxyl. Các cấu trúc 3 chiều này rất ổn định. Với cấu trúc chứa nhiều các phân tử cacboxyl, Aqualift là chất tích điện dương. Aqualift là chất rất ưa nước và hoàn toàn hòa tan trong nước.
·       Aqualift™- với điện tích dương hoàn toàn không tác động đến mô, nó còn ngăn chặn các gốc ion âm do quá trình oxi hóa, làm tăng khả năng ổn định của mô và các tổ chức bao quanh, chống lại lão hóa.
·       Aqualift™- hoạt hóa quá trình trao đổi ion tại tổ chức, kích thích các vi tuần hoàn, là chất kích thích sự tăng sinh và di chú của các chất gian bào: collagen, elastin, fibroectin, glycosaminoglycanes.
·       Aqualift™- được hấp thụ và chuyển hóa dần, bộ khung cacbonic cao phân tử sẽ được phân hủy dần bởi tổ chức xung quanh.
·       Aqualift™- thời gian phân hủy của tổ chức phụ thuộc vào khối lượng đưa vào cơ thể. Tiêm khối lượng <10ml sẽ tồn tại trong 12-24 tháng. Với lượng nhiều hơn, từ 50-80ml sẽ tồn tại trong 3-5 năm.
·       Aqualift™- là chất rất lỏng, có thể tiêm qua kim nhỏ mà không cần vô cảm tại chỗ. Do không cần tiêm thuốc tê, mô và tổ chức không bị ảnh hưởng, khối lượng Aqualift sẽ được tiêm vào rất chính xác để đạt được mục đích.
·       Aqualift™- không phản ứng lại với tổ chức đã được tiêm trước đó. Có thể tiêm thêm Aqualift vào cùng 1 vị trí trong trường hợp chưa đạt được yêu cầu hay trong kỹ thuật điều chỉnh kích thước dần dần.
·       Aqualift™- có tính toan nhẹ, môi trường ngăn cản sự nhiễm trùng.
·       Aqualift™- không có phản ứng không mong muốn do không có chất dị ứng và không gây các phản ứng miễn dịch
·       Aqualift™- không gây phản ứng viêm, không có sự di chuyển khỏi nơi tiêm ban đầu.
·       Aqualift™- khi tiêm lượng lớn vào mô (150-200ml) không có hiện tương phân tách và tạo vỏ quanh tổ chức tiêm.
 
Ứng dụng của Aqualift:
1. Chỉ định xóa vết nhăn:
·       Xóa nhăn trên trán.
·       Xóa vết nhăn giữa 2 mắt
·       Xóa vết nhăn quanh mắt
·       Xóa rãnh sâu 2 bên mũi.
·       Xóa nếp nhăn quanh miệng
·       Xóa nếp nhăn trên má
·       Xóa rãnh sâu khóe miệng.
·       Xóa nếp nhăn ở cổ.
2. Chỉ định tạo hình khu vực nhỏ:
·       Tạo hình vùng mi dưới
·       Tạo hình vúng má
·       Tạo hình môi
·       Tạo hình khuôn mặt
·       Tạo hình cằm
·       Tạo hình bàn tay
·       Tạo hình đầu gối
Có thể tiêm lượng nhỏ trong tạo hình thẩm mỹ. Với việc hấp thụ dần Aqualift trong mô tổ chức sẽ làm giảm dần lượng gel cho đến khi nó hấp thụ hoàn toàn. Sản phẩm đóng gói các kích cỡ: 1,2,3,4 ml.
3. Chỉ định tạo hình đường cong:
·       Tạo hình vú
·       Tạo cân đối cho 2 bên vú
·       Tạo hình mông
·       Giảm độ cong của chân.
·       Giảm đi các biến dạng của các bộ phận trên cơ thể.
Với khối lượng lớn chất Aqualift có thể tạo hình đường cong tại các vùng cơ thể khác nhau như thân và chi. Với mục đích này Aqualift đóng gói dạng 25-50-100gr. Với khối lượng Aqualift cao như thế này có thể giữ được trong cơ thể 5 năm.

Tin khác

    Hiện tại chưa có bài viết nào trong mục này